5/ Ao đơn có ao trữ nước và hệ thống xử lý nước thải

Trang trại được thành lập vào đầu những năm 1990 để nuôi tôm sú, ở Kedah, phía tây bắc của Kuala Lumpur - Malaysia. Ban đầu trang trại được bố trí một hệ thống nuôi với nước biển có chất lượng rất tốt lấy vào từ một kênh dài 2,4 km.

Trang trại có 226 ao đất, hầu hết có diện tích 0,8 ha/ao, bố trí theo hàng với các kênh cấp và xả nước thải ở hai bên đối diện. Hai ao trữ lớn cung cấp nước biển đã được xử lý, có các ao lắng xử lý nước thải trước khi thải ra biển. Các cửa cống cấp chính làm bằng ván gỗ để cho nước vào kênh cấp thứ cấp. Các cửa cống thoát hoặc các cửa cống thu hoạch của ao nuôi được làm bằng ván gỗ để vận hành nước trong ao. Hệ thống này không có cống trung tâm hoặc hố thu hoạch.

Vào đầu năm 2010, trang trại đã được thiết kế lại thành hệ thống mô-đun an ninh sinh học từ các hàng ao đơn được bao phủ bằng polyethylene mật độ cao (HDPE) và các ao chứa để xử lý nước. Hai mô-đun được lót hết bằng bạt HDPE, các mô-đun còn lại chỉ được lót bờ bên trong ao. Trang trại vẫn có 226 ao, nhưng mỗi mô-đun mới bao gồm 20 ao, diện tích 0,8 ha/ao và hai ao nuôi cá với diện tích từ 0,4 - 0,6 ha. Bốn ao (0,8 ha/ao) bên cạnh các kênh cấp chính đã được sửa đổi thành các ao trữ nước cho mỗi mô-đun.

Tất cả các cửa cống cấp và xả đã được xây dựng lại để an toàn sinh học hơn, đảm bảo không có rò rỉ. Một hệ thống thoát nước trung tâm đã được lắp đặt để thoát bùn trong quá trình nuôi và làm tăng sức tải của ao nuôi. Hệ thống cung cấp nước biển (đã được sửa chữa) chuyển nước qua bốn ao xử lý trước khi đến các ao nuôi - điều này đảm bảo chỉ có nước được xử lý đi vào các ao nuôi trong một mô-đun. Tag: may thoi khi



6/ Hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS)

Dự án iSHARP ở Malaysia được thiết kế như một hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn (RAS). Tất cả nước thải được đưa trực tiếp đến một ao lắng chính để xử lý nhằm tái sử dụng hoặc thải ra lại môi trường. Hệ thống xử lý có 4 pha: ngoại trừ ao lắng ra thì kênh xử lý có độ lớn thứ nhất và thứ hai chứa cá, vẹm, hào, rong biển để lọc sinh học các hạt lơ lửng và nitrat hóa các chất thải hòa tan, hai ao còn lại có sục khí và xử lý hóa học (bằng chlorin hoặc vôi) trước khi nước được cho quay trở lại kênh cấp chính để tái sử dụng hoặc thải ra bên ngoài. Các thông số chất lượng nước như: nhu cầu oxy hóa học và nhu cầu oxy sinh hóa, tổng đạm amon (Total ammonia nitrogen - TAN) cũng như phospho được kiểm tra thường xuyên dựa theo yêu cầu của chính quyền địa phương.

Chất lượng của nước khi ra khỏi hệ thống xử lý nước thải cũng tốt y như nước biển đầu vào và chúng được xử lý lại như lúc đầu để phục vụ các hoạt động nuôi. Sau đó, nước được bơm sang kênh cấp chính và từ đây chúng được bơm trở lại vào các ao chứa trong các mô-đun. Nước được xử lý lại đối với các bệnh cụ thể (tùy theo yêu cầu) bên trong ao chứa trước khi được bơm sang các ao nuôi. Trong mỗi mô-đun có 04 ao chứa, 24 ao nuôi được thiết kế thành hai hàng.

Những thực tiễn hoạt động của hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn của dự án này ở Malaysia và kỹ thuật biofloc (quá trình tự nitrat hóa bên trong các ao nuôi) đã được tác giả mô tả vào năm 2013. Hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn không có nghĩa là lượng nước mất đi do quá trình xi-phong bùn, do bay hơi hay thấm qua đất không được cấp bù. Lượng nước cần thiết trong suốt quá trình hoạt động phải được thay bằng một lượng nước mới được xử lý phù hợp. Tag: canh quat oxy

Dự án rất may mắn có hai hệ thống RAS kết hợp, tạo thành một trang trại nuôi tôm an ninh sinh học và ổn định hơn so với các trang trại điển hình khác. Tôm được thả nuôi đợt đầu tiên vào năm 2011, và kể từ khi ấy không có bất kỳ báo cáo nào liên quan đến các sự cố về bệnh tôm ở đây.

7/ Triển vọng

Có nhiều kiểu hệ thống được người nuôi tôm ở Châu Á sử dụng, từ quản lý trên cơ sở các ao đơn cho đến các hệ thống RAS lớn hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hệ thống chưa làm giảm được tác động của chúng đối với môi trường do lượng nước thải ra. Các nhà đầu tư và những người nuôi tôm quy mô nhỏ cần phải biết đến các hệ thống sản xuất hiện có khác để họ có cơ hội lựa chọn. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp nuôi tôm cần tìm ra cách để ngăn chặn tốt hơn những ảnh hưởng này, bao gồm cả việc thực hiện nhiều hơn các chương trình chứng nhận như “Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất” của Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu.

Tình trạng tương tự cũng tồn tại ở nuôi tôm bố mẹ, trại sản xuất giống, trại ương tôm cũng như ở những ở những hệ thống sản xuất kiểu nước chảy (raceway): nước thải sinh ra trong quá trình sản xuất không được xử lý một cách hợp lý. Ảnh hưởng đến môi trường của nước thải xả ra từ các cơ sở sản xuất này cũng là một vấn đề quan trọng trong việc bùng phát dịch bệnh, lây lan sang các cơ sở sản xuất khác. Tuy nhiên, kỹ thuật RAS đã được ứng dụng một cách thành công trong các cơ sở này.

Các hệ thống biofloc đem lại sự sản xuất ổn định và bền vững, do chúng hỗ trợ quá trình tự nitrat hóa ở bên trong các ao nuôi tôm hoặc cá mà không cần thay nước. Hệ thống biofloc làm giảm nguy cơ tôm bị bệnh bởi vì: tỷ lệ thay nước thấp sẽ hỗ trợ ngăn chặn sự xâm nhập mầm bệnh và hỗ trợ an ninh sinh học, sục khí liên tục làm ổn định chất lượng nước (DO, pH), quần thể vi sinh vật đa dạng và ổn định sẽ kích thích hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của vật nuôi cũng như hạn chế sự phát triển của các loài cơ hội (như Vibrio), thường xuyên loại bỏ bùn đáy tích tụ sẽ khống chế mật độ biofloc ở mức độ vừa phải. Tag: thiet bi tao oxy

Các hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn tái sử dụng nước, dùng lọc cơ học và lọc sinh học, hạn chế lượng nước được sử dụng là có lợi, bởi vì nước là một nguồn tài nguyên có hạn ở nhiều vùng. Thuật ngữ “Không xả thải” thỉnh thoảng được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, và mặc dù tất cả nước và bùn xả thải từ các trang trại có thể được giữ lại nhưng xử lý nước thải thường tốn kém chi phí.

Sử dụng nước hạn chế sẽ làm dễ dàng nhiều hơn và ít tốn kém hơn khi loại bỏ các chất dinh dưỡng được thải ra từ các vật nuôi, bởi vì thể tích nước thải ra thấp hơn nhiều so với trang trại nuôi tôm, cá truyền thống. Nuôi trồng thủy sản tuần hoàn có thể được xem như một phương thức sản xuất tôm/cá thân thiện nhất với môi trường ở một mức độ thương mại có thể chấp nhận được. Các dưỡng chất thải ra từ tôm hoặc cá có thể được sử dụng làm phân bón trong nông nghiệp hoặc dùng sản xuất khí đốt biogas.

Hệ thống sản xuất Nước chảy liên tục RAS mức độ thấp RAS thâm canh RAS siêu thâm canh
Nuôi cá: Thể tích nước mới %/ngày (Bregnballe, 2015) 1.028% 103% 34% 6%
Nuôi tôm: thể tích nước mới %/chu kỳ 100 ngày 1.000% 20% (semi-biofloc) 10% (biofloc) 1% (hệ thống raceway, không thay nước)
Bảng 1. Nhu cầu nước mới để tuần hoàn trong các hệ thống nuôi tôm, cá.

Trong bất kỳ hoạt động nuôi trồng thủy sản nào, tính bền vững của một hệ thống có thể cải thiện lợi nhuận. Với những vấn đề về dịch bệnh đang nổi lên thì xử lý nước thải được thải ra từ cơ sở nuôi hoặc hệ thống RAS là hết sức quan trọng. Điều mà các nhà đầu tư, người nuôi tôm và các kỹ thuật viên cần phải nhận thức là bất kỳ chất thải gì được thải ra môi trường, sớm hay muộn nó sẽ quay trở và gây bệnh trên vật nuôi.

Nguồn: 2lua.vn/article/nhung-he-tho-ng-nuoi-tom-tham-canh-o-chau-a-phan-2-5b174a29e4951992578b456b.html